Xem thời gian

Hanoi

Liên kết website mở

Danh bạ web hay nhất Việt Nam

Hương hoa khoe sắc

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (đinh thị lan)

Hoa mai

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu học Duy Trung

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > THUYẾT TRÌNH VĂN HỌC >

    Quê hương - Mảnh hồn làng - Tế Hanh

    QUÊ HƯƠNG  - MẢNH HỒN LÀNG -   CỦA NHÀ THƠ TẾ HANH 

         Kính thưa quí thầy cô giáo!

                       "Quê hương là gì hở mẹ

                         Mà cô giáo dạy phải yêu

                         Quê hương là gì hở mẹ?

                         Ai đi xa cũng nhớ nhiều." 

            Có lẽ câu ca quen thuộc đó đã đi vào lòng người Việt Nam tự bao giờ. Trong cuộc đời ,ai cũng có một quê hương để mà thương mà nhớ. Với Tế Hanh, quê hương còn sâu nặng, da diết hơn bao giờ hết, nó như thấm vào từng lời thơ, nét chữ và cả trong làn da thớ thịt của nhà thơ. Chính vì thế mà Tế Hanh được gọi là nhà thơ của quê hương. Hầu như bài thơ nào, câu thơ nào, nhà thơ cũng nhắc đến quê hương: Nhớ con sông quê hương, Lời con đường quê, Hai nửa yêu thương v.v....

              Cũng như Giang Nam, Đỗ Trung Quân song tấm tình quê hương của Tế Hanh Sao mà sâu đậm, thiết tha và rung động lòng người đến thế? Phải chăng đó chính là tình cảm trong sáng, thơ ngây mà nặng nghĩa ân tình của một cậu học trò vừa mới xa quê lần đầu, làm sao mà không khỏi bịn rịn, không thể lưu luyến và nhớ quê da diết, nhớ hoài, nhớ không thể nào quên một làng quê nhỏ bé, làm nghề chài lưới ven biển tỉnh Quảng Ngãi, luôn luôn được vây bọc bởi sông nước mênh mông và đó cũng là tình cảm chân thành mà nhà thơ đã gởi gắm trong bài "Quê hương" một bài thơ tiêu biểu và cũng chính là bông hoa đẹp nhất trong vườn "Hoa niên" của tác giả.

               Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

           Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông. 

           Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

          Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

          Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

          Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

          Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

          Rướn thân trắng bao la thâu góp gió... 

          Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ

          Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

          Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,

          Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

          Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

          Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

          Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

          Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. 

          Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

          Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

          Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

          Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! 

              Kính thưa quí thầy cô giáo!

             Trước hết em xin giới thiệu đôi nét về tác giả Tế Hanh.

            Tế Hanh tên khai sinh là Trần Tế Hanh, sinh năm 1921, quê ở một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông có mặt trong phong trào thơ Mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. Sau năm 1945 Tế Hanh sáng tác bền bỉ nhằm phục vụ cách mạng và kháng chiến. Ông được biết đến nhiều nhất với những bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương tha thiết quê hương miền Nam và niềm khao khát Tổ quốc được thống nhất. Quê hương là nguồn cảm hứng lớn trong suốt cuộc đời của Tế Hanh. Những tác phẩm chính của ông là các tập thơ: "Hoa niên"(1945), "Gửi miền Bắc" (1955) , " Tiếng sóng"(1960), " Hai nửa yêu thương"(1963)... Bài thơ "Quê hương" rút trong tập" Nghẹn ngào"(1939), sau được in lại trong tập "Hoa niên" (1945).

     

           Bài thơ "Quê hương" được Tế Hanh viết năm 1939 khi nhà thơ vừa tròn mười tám tuổi đang học trung học tại Huế. Nỗi nhớ làng chài quê hương thân yêu đã tỏa rộng và thấm sâu và bài thơ biết bao man mác, nhớ thương vơi đầy.

           Thật tự nhiên và cũng rất bình dị, hai câu thơ đầu, tác giả giới thiệu chung về làng quê của mình. Đó là một làng chài bốn bề sông nước" bao vây" thuộc vùng duyên hải miền Trung. "Cách biển nửa ngày sông", câu nói vừa cụ thể, vừa trừu tượng thể hiện cách cảm dân giả, chân quê, hồn hậu đáng yêu. Hai tiếng " làng tôi" xiết bao yêu thương tự hào:

               Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới   

           Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

            Không thơ mộng như thơ Huy Cận, không lung linh như thơ Chế Lan Viên, cái làng vốn làm nghề chài lưới ấy của Tế Hanh có một cái gì đó thật chất phác, thật bộc trực nhưng không kém phần nồng đượm. Đó cũng đủ thấy rằng phải có một tấm tình yêu quê, một niềm tự hào về quê mới có thể viết nên những vần thơ trong trẻo thuần hậu và thật dễ thương đến thế!

     

           Trong tâm tưởng của nhà thơ, sau lời giới thiệu ấy, tác giả đã vẽ nên bức tranh quê tràn đầy màu sắc, tươi trẻ, lãng mạn:

           Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

           Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

           Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

           Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.

           Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

            Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

             Hình ảnh làng chài như đang hiện ra trước mắt, kỉ niệm về quê hương như được lọc qua ánh sáng tâm hồn. Một bình minh đẹp ra khơi có "gió nhẹ", có "sớm mai hồng", có những chàng trai cường tráng, khỏe mạnh "bơi thuyền đi đánh cá", trong khung cảnh "trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng". Phải nói đây là một buổi sáng đẹp trời lí tưởng- vẻ đẹp tinh khôi mát mẻ, dễ chịu, thoáng đãng bao la sắc hồng của bình minh. Và chỉ những người làm nghề chài lưới mới thấy hết được tầm quan trọng thiết yếu của những biển đẹp tươi. Không chỉ báo hiệu một chuyến ra khơi bình yên, mà còn hứa hẹn những mẻ lưới bội thu. Trong cái quan cảnh dễ làm lòng người phấn khích ấy, đoàn "trai tráng" bơi thuyền ra khơi bắt đầu một ngày lao động của mình. Làm nghề đánh các nặng nhọc này phải có những người khỏe mạnh vạm vỡ mới có thể đảm đương nổi. Chỉ có những chàng trai mới có thể điều khiển nổi"chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã", mới " phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang" được. Có thể nói đây là một chuyến ra khơi đầy hào hứng. Những câu thơ miêu tả trực tiếp cảnh dân làng ra khơi đánh cá có ý nghĩa như những chi tiết tả thực, giúp người đọc hình dung được không gian đoàn thuyền khá sinh động. Trên nền kể tả ấy xuất hiện hai câu thơ mang vẻ đẹp bất ngờ:

                 Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng    

             Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

            Cánh buồm là một vật cụ thể hữu tình được ví với "mảnh hồn làng" là cái trừu tượng vô hình. Cách ví von này làm câu thơ trở nên đẹp và sâu sắc bất ngờ." hồn làng" chính là nói tới linh hồn quê hương mà ai cũng ít nhiều cảm thấy. Đối với Tế Hanh thuở mười tám tuổi hình ảnh chiếc buồm ra khơi mang hơi thở, nhịp đập tâm hồn của quê hương, có một mảnh hồn làng neo đậu mãi trong tâm hồn thi sĩ. Hình ảnh cánh buồm "rướn thân trắng bao la thâu góp gió" là một hình ảnh giàu sức gợi tả đậm đà ý vị mang cảm hứng lao động và cảm hứng vũ trụ đã thành biểu tượng đẹp của làng chài quê hương.

     

             Đứa con xa quê ấy có bao giờ quên được cảnh bà con làng chài đón đoàn thuyền đánh cá từ biển khơi trở về với niềm vui biển lặng. Cảnh đón ghe về thật sự là ngày hội của bà con ngư dân:

                 Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ     

            Khắp dân làng tấp nập đón ghe về,

            Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,

            Những con cá tuơi ngon thân bạc trắng.

             Một khung cảnh thật náo nức thanh bình, mang dáng vẻ ấm no đang phủ lên một khu làng. Vui lắm, nhộn nhịp lắm, ta có thể tưởng tượng một ngày hội thật sự trên bến sông ấy. Một ngày hội mà lúc nào Tế Hanh cũng nhớ, cũng yêu. Tác giả nhớ lắm cảnh đứa con của làng trở về, yêu lắm hình ảnh những con cá "tươi ngon thân bạc trắng". Như chìm đắm trong hai chữ "nhớ" và "yêu", và giọng thơ đến đây bỗng trầm lắng hơn: " Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe". Câu thơ rất thực nhưng lại mang một ý nghĩa hết sức thiêng liêng. Thay mặt dân làng, tác giả cảm tạ trời đất đã ban cho họ một chuyến đi bình an thắng lợi, ban cho họ một niềm vui không gì bằng. Và chắc tác giả cũng thấy hân hoan trong một luồng sinh khí mới thổi về trên xóm thôn.

                Kính thưa quí thầy cô giáo!

            Như thế mới biết hạnh phúc không phải là một cái gì đó qúa trừu trượng, quá to tát; hạnh phúc của những người dân làng chài là gặp mặt người thân sau bao ngày long đong xa cách và hạnh phúc của Tế Hanh là hòa cùng dân làng trong những khoảnh khắc "đón ghe về". Đấy là một tâm hồn nhạy cảm, một con người có chiều sâu ân tình,  mang đậm vị đằm thắm, sắc thái đôn hậu cũng rất Tế Hanh:

                  Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

             Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

             Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

             Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

          Dường như trong niềm vui thu hoạch "cá đầy ghe" ấy ,đây mới là lúc ta được dịp ngắm nhìn những người đánh cá vừa mới trở về. Họ hiện ra trong dáng vẻ vạm vỡ, từng trãi, nhuộm nắng, nhuộm gió, nhuộm vị mặn mòi của biển" làn da ngăm rám nắng- Cả thân hình nồng thở vị xa xăm". Câu thơ thật đẹp và lãng mạn. Những người đánh cá như mang theo hơi thở, mùi vị của biển cả. Họ chính là những sinh thể được tách ra từ cuộc sống đại dương, Họ là những đứa con của biển. Câu thơ có tầm vóc đó cho thấy cách cảm nhận tài hoa, khỏe khoắn của tác giả.

     

            Với con người là vậy. Còn với những con thuyền, chúng cũng được nhân hóa như một sinh thể sống động" nằm" yên lặng như thể đang nghỉ ngơi, thư giản sau một ngày vật lộn với sóng gió và không thể nói là không mệt mỏi. Cụm từ "im bến mỏi" là một sự kết hợp thật đẹp, cô đúc tối đa mà lại rất gợi. Có thể nói câu thơ đã chỉ ra được trạng thái thư giản, hài lòng với chuyến ra khơi vừa qua của con thuyền. Cho nên con thuyền mới "nghe" mới cảm nhận vị muối của biển như lan tỏa râm ran trong cơ thể mình. Hình ảnh này gợi cho ta hình dung đến những người dân chài trai tráng kia. Hai câu thơ vừa đẹp trong cách hình dung, vừa thấy được vẻ yên lặng thanh bình, vừa như gặp đâu đây những nụ cười mãn nguyện.

                Tình yêu của tác giả được khơi nguồn từ những kỉ niêm sâu lắng, êm đềm, những hình ảnh thân thương quen thuộc. Lớn lên phải xa quê hương, xa nơi gắn bó bao kỉ niệm tuổi thơ của một thời ấp ủ, tình yêu ấy lại được càng nhân lên gấp bội. Trong lửa đạn, quê hương vẫn hiện lên, trong mưa bom quê hương vẫn một hình ảnh trọn vẹn nhất, lung linh nhất. Nơi đất khách quê người, đứa con của làng chài ngày ấy vẫn giữ trong thẳm sâu hình ảnh quê hương xóm lưới. Mọi vật của quê hương như bám chặt trong tiềm thức, trong trái tim tác giả để rồi từ đó ngân lên tiếng gọi thiêng liêng của quê hương, của sông nước miền Nam. Đứng giữa trời đất xứ lạ, người con xa quê ấy thấy lòng mình chùng xuống. Quá khứ- hiện tại- quê nhà- quê người, tất cả như một bộ phim quay chậm đan xen, hòa quyện vào nhau trĩu nặng trong lòng con người ấy:

             Nay xa các lòng tôi luôn tưởng nhớ 

             Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

            Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

            Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

        Thật vậy! Tất cả chỉ là nỗi nhớ. Tác giả nhớ lắm, nhớ đến da diết, bồi hồi. Nhớ "màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi”. Nỗi nhớ chân thành tha thiết nên lời thơ thật giản dị , tự nhiên nhờ thốt ra từ trái tim:" Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!" Cậu học sinh Tế Hanh, đứa con hiếu thảo của quê hương, đang phải đi học xa quê đó cứ luôn tưởng nhớ, nhớ tới cồn cào cái " mùi nồng mặn" đặc trưng của quê hương. Với Tế Hanh, cái hương vị lao động làng chài đó chính là hương vị riêng đầy quyến rủ của quê hương. Nhà thơ đã cảm nhận chất thơ trong đời sống hằng ngày của người dân, đó là một điều đáng quí. Vì vậy hình ảnh quê hương trong bài thơ không hề buồn bã, hiu hắt mà thật tươi sáng, khỏe khoắn mang hơi thở nồng ấm của lao động, của sức sống.

               Kính thưa quí thầy cô giáo!

              Bài thơ "Quê Hương" có một câu thơ đề từ rất gợi cảm:

              Chim bay dọc biển đem tin cá

             Đó là câu thơ của phụ thân nhà thơ. Nhớ quê hương, nhớ người cha thân yêu dào dạt trong hồn thơ ông. Có cảm nhận được câu thơ đề từ ấy, ta mới thấm thía được tình thương nhớ quê hương qua bài thơ kiệt tác này.

              Bài thơ "Quê hương" đã đi suốt một hành trình trên sáu mưới năm. Nó gắn liền với tâm hồn trong sáng, với tuổi hoa niên của Tế Hanh. Thể thơ tám tiếng, giọng thơ đằm thắm, dạt dào, gợi cảm. Những câu thơ nói về dòng sông, con thuyền, cánh buồm, khoang cá, chàng trai đánh cá, bến quê... và nỗi nhớ của đứa con xa quê rất hay, rất đậm đà đã biểu lộ một hồn thơ đẹp. Nghệ thuật phối sắc, sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và nghệ thuật chuyển đổi cảm giác khá thành công tạo nên những vần thơ trữ tình, chứa chan, thi vị. Đúng như vậy, nếu không có một tình cảm yêu thương, gắn bó thật sâu nặng đối với cuộc đời, với làng chài ven biển và những người dân chài quê hương thì nhà thơ không có sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc để có những hình ảnh đầy sáng tạo như vậy.

              Thủy chung với miền quê, miền thơ như thế. Tế Hanh đã có những bài thơ hay về quê hương là phải. Và"Quê hương" mãi mãi là một điểm tựa vững chắc cho những ai đi xa. Nó in mãi dấu ấn trong lòng người chẳng lúc nào phai. Có lẽ vì:

                   Quê hương nếu ai không nhớ

                   Sẽ không lớn nổi thành người.


    Nhắn tin cho tác giả
    Huỳnh Văn Tâm @ 20:20 05/11/2010
    Số lượt xem: 1921
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    KIỂM TRA CÔNG NHẬN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

    Đọc tin mới

    html

    Tra cứu điểm thi đại học

    Xem điểm thi Đại Học !

    Cá bơi theo chuột