Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu học Duy Trung
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > THUYẾT TRÌNH VĂN HỌC >
Huỳnh Văn Tâm @ 16:30 31/10/2010
Số lượt xem: 3619
TTVH: Bài Bếp lửa - Bằng Việt
ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
"BẾP LỬA" - ẤM NỒNG TÌNH BÀ CHÁU CỦA NHÀ THƠ BẰNG VIỆT
DÀN Ý:
A. Mở bài: Giới thiệu tác giả Bằng Việt, hoàn cảnh sáng tác bài thơ "Bếp lửa".
B. Thân bài: Triển khai các luận điểm sau:
1/ Luận điểm 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng về bà và tình bà cháu gắn liền với bếp lửa
- Sự hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm.
- Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời ấu thơ bên người bà. Tuổi thơ ấy nhiều gian khổ, nhọc nhằn.Tuổi thơ có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Có nỗi lo giặc tàn phá xóm làng, có những hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống pháp: Mẹ và cha bận công tác không về, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà, sớm phải tự lập, sớm phải lo toan.
- Kỉ niệm về bà về những năm tháng tuổi thơ gắn liền với bếp lửa "chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu - nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay". "Rồi sớm, rồi chiều lại bếp lửa bà nhen". Bếp lửa hiện diện như bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà.
- Bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu lại gợi thêm một liên tưởng khác - sự xuất hiện của chim tu hú. Tiếng chim quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi độ vào hè, tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong.
- Tiếng chim còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ và nhớ mong của hai bà cháu.
2/ Luận điểm 2: Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa
- Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu suy ngẫm về cuộc đời của bà. Hình ảnh của bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa; có thể nói bà là người nhóm lửa, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng trong mỗi gia đình.
- Sự tần tảo, đức hi sinh chăm lo cho mọi người của bà, bếp lửa tay bà nhóm lên mỗi sớm mai là nhóm lên niềm yêu thương, niềm vui sưởi ấm, san sẻ và còn "nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ".
- Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa. Bà là người phụ nữ Việt Nam muôn thuở với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với những khó khăn, gian khổ của đời bà.
- Bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu và mọi người. Chính vì thế mà nhà thơ đã cảm nhận trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
- Bếp lửa còn được hiểu với ý nghĩa trừu tượng và khái quát: Bếp lửa được bà nhen lên không phải chỉ bằng nhiên liệu ở bên ngoài mà còn chính là được nhen nhóm lên ngọn lửa trong lòng bà - ngọn lửa của sức sống,lòng yêu thương, niềm tin. Như vậy hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
3/ Luận điểm 3: Người cháu đã trưởng thành đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà, nhớ về bếp lửa
- Đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã khôn lớn, đã được chắp cánh bay xa, được sống trong môi trường mới hiện đại nhưng vẫn không thể nào quên ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc ấp iu của bà.
- Ngọn lửa ấy đã trở thành kỉ niệm, thành niềm tin nâng bước người cháu trên suốt chặng đường đời.
- Khổ thơ cuối chứa đựng đạo lí thủy chung cao đẹp của người Việt Nam.
C. Kết luận:
- Bếp lửa là bài thơ ca ngợi về tình bà cháu
- Bài thơ đánh thức trong mỗi con người lòng thủy chung đối với gia đình, quê hương, đất nước.
BÀI THUYẾT TRÌNH
Kính thưa quí thầy cô giáo!
Chào tất cả các bạn về dự hội thi hôm nay
Em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Thị Lý - là học sinh lớp 9/5 Trường THCS Nguyễn Thành Hãn. Em xin trình bày đề tài thuyết trình của mình với tiêu đề " Bếp lửa - Ấm nồng tình bà cháu của nhà thơ Bằng Việt"
- Luận điểm 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng về bà và tình bà cháu gắn liền với bếp lửa
Kính thưa quí thấy cô giáo !
Có một thời gian khổ mà không thể nào quên. Có những người gắn bó với tuổi thơ chúng ta, trở thành kỉ niệm, mang theo bao tình thương, nỗi nhớ sâu nặng trong lòng ta. Bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt với hình ảnh người bà đã đem đến cho ta cảm xúc và nỗi niềm bâng khuâng ấy.
Bài thơ "Bếp lửa" được viết năm 1963, khi Bằng Việt đang sống và học tập xa đất nước. Bài thơ gợi lên những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu vừa sâu sắc, thấm thía vừa rất đỗi thân thuộc với mọi người.
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
......................................................
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi vê những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với sự chăm sóc, lo toan, vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quí của bà. Cuối cùng người cháu muốn giữ niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài thơ là đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm. Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về bà và những kỉ niệm đối với bà, nói lên lòng kính yêu và nhứng suy ngẫm về bà.
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Thật đáng trân trọng biết bao ! Từ nơi đất khách xa xôi, từ một xứ sở đầy băng tuyết và lạnh giá, nhà thơ lại nhớ về một bếp lửa đang chờn vờn trong sương sớm nơi quê nhà:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy mấy nắng mưa
Bài thơ mở ra trước mắt người đọc một hình ảnh bếp lửa thân thương. "Bếp lửa chờn vờn trong sương sớm" là một hình ảnh quen thuộc, gần gũi, gắn bó với mỗi gia đình Việt Nam, với sự tần tảo chịu thương, chịu khó của bà.
Đúng thế, Trong khi trời còn tờ mờ sáng, bà đã dậy nhóm bếp lửa làm tan cái giá lạnh của sớm mai, làm cho lòng người ấm lại. Hình ảnh bếp lửa chờn vờn lung linh trong sương mù buổi sớm thật là huyền ảo. "Một bếp lửa ấp iu nồng đượm" gời đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chắt chiu của người nhóm lửa, gợi cả sự nâng niu trân trọng giữ gìn kỉ niệm của tác giả và chính bên bếp lửa quen thuộc, nồng đượm ấy hình ảnh người bà lại hiện lên đầy thân thương và xúc động:
"Cháu thương bà biết mấy nắng mưa"
Nhớ bếp lửa là nhớ đến bà biết máy nắng mưa, trải qua nhiều vất vả, khó nhọc. Điệp ngữ "một bếp lửa" kết hợp với câu cảm thán làn cho giọng thơ trở nên bồi hồi xúc động.
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Cả một hồi ức kỉ niệm lại hiện về trong tâm trí nhà thơ. Suốt một quảng đời vất vả bà cháu bên nhau.
"Lên bốn tuổi cháu dã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!"
Tuổi thơ của tác giả đã hiện lên cùng cuộc sống của người bà chịu thương chịu khó. Tuổi thơ đối với cả một đời người là cả một thời gian đầy sung sướng và hạnh phúc. Thế nhưng, đối với Bằng Việt, khung trời thơ ấu đã in đậm trong anh mùi khói bếp. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn, nạn đói năm 1945 có hơn 2 triệu người dân phải chết đói. Tình cảnh như vậy làm sao tránh được những cay đắng, xót xa đối với bà và cháu. Hình ảnh người bố đi đánh xe khô rạc với con ngựa gầy càng làm cho ta cảm thấy cái đói nghèo luôn là cái bóng ma ám bên tầng lớp người lao động trong xã hội cũ. Trong khung cảnh ấy, chỉ có khói bếp là bao trùm tất cả. Tuổi thơ Bằng Việt là cả một không gian đầy mùi khói ngột ngạt. Khoảng không gian ấy, ấn tượng về cuộc đói khổ và khói bếp nhà nghèo hình như đến bây giờ vẫn chưa phai mờ trong trong khảm của tác giả:
"Nghĩ lại bây giờ sống mũi còn cay". "Nghĩ lại đến giờ" đó là năm 1963, đã 19 năm trôi qua, mà đứa cháu vẫn thấy "sống mũi còn cay!" - kỉ niệm buồn, vết thương lòng khó quên là vậy.
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Khổ thơ thứ ba nói việc nhóm lửa mất một thời gian dài 8 năm của hai bà cháu. Có tiếng chim tu hú kêu gọi mùa lúa chín trên nhứng cánh đồng quê. Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huế thân yêu đã trở thành kỉ niệm. "Tú kêu"... "khi tu hú kêu","tiếng tu hú". Cái âm thanh đồng quê thân thuộc ấy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần càng trở nên tha thiết bòi hồi. Đó là tiếng vọng thời gian năm tháng của kỉ niệm về gia đình, về quê hương yêu thương. Cháu thầm hỏi bà hay tự hỏi lòng mình về một thời xa vắng.
"Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú keu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế?"
Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh "Mẹ cùng cha bận công tác không về", cháu ở cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chăm sóc nuôi dưỡng của bà. Hai câu thơ 16 chữ mà chữ "bà" đã chiếm đúng một nửa. Ngôn từ đã hội tụ tất cả tình thương của bà dành cho cháu.
"Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học."
Hay nhất, hàm súc nhất là từ ngữ "cháu ở cùng bà", "bà bảo", "bà dạy", "bà chăm". Vai trò của người bà trong mỗi gia đình thật to lớn. Năm tháng vẫn trôi qua thế mà bà vẫn "khó nhọc" vất vả "nhóm bếp lửa". Nghĩ về ngọn lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu gọi nhắn thiết tha tiếng chim tu hú "kêu chi hoài". Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi nhớ thương bà bồi hồi tha thiết. Cảm xúc cứ thế mà tuôn trào lên.
"Nhóm bếp lửa, nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?"
Năm chữ "nghĩ thương bà khó nhọc" nói lên lòng biết ơn bà của đứa cháu đã và đang nặng tình thương của bà dành cho.
Kính thưa quí thầy cô giáo ! Nếu trong thơ Tố Hữu, tiếng chim tu hú là tiếng chim gọi đàn, tiếng gọi tự do thì trong bà thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt nó là tiếng vọng của quê hương, của thời gian năm tháng, của kí ức tuoir thơ, gợi thương, gợi nhớ về bà.
"Năm giặc đôt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về làm lại
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh"
Đúng thế làm sao có thể quên được "Năm giặc đốt làng, cháy tàn cháy rụi". Cả ngôi nhà nhỏ sớm tối đi về của hai bà cháu cũng không còn. Được hàng xóm bốn bên đỡ đần dựng lại cho một túp lều tranh. Tưởng rằng bà cao tuổi thế, mỏng manh thế sẽ không còn sức chịu đựng trước nỗi đau này. Thế nhưng bà vẫn kiên cường, âm thầm và lặng lẽ vượt qua. Bà đã dặn cháu:
"Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!"
Câu nói ấy tuy thật đơn sơ nhưng chứa đựng bao tình cảm cao cả vì đã được xuất phát từ trái tim bà, tâm hồn bà và tấm lòng yêu thương bao la của bà dành cho con, cho cháu. Bà là thế đấy! Suốt cả cuộc đời lúc nào cũng âm thầm chịu đựng nỗi đau của mình va lúc nào cũng sẵn sàng mở rộng lòng mình để che chở, yêu thương con cháu, luôn tận tụy vì con vì cháu. Có lẽ đó chính là hạnh phúc của bà. Không chỉ dừng lại ở đó, vượt lên trên cả tình thương ấy, bà đã âm thầm lặng lẽ chịu đựng bao gian khổ, hi sinh cho cuộc kháng chiến này.
Kính thưa quí thầy cô giáo ! Đoạn thơ đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ và dào dạt cảm xúc. Cháu thương bà và biết ơn bà không bao giờ quên, Bằng thể thơ tự do, tác giả đã tạo nên một giọng thơ thiết tha, chất thơ trong sáng truyền cảm, hình tượng đẹp. Bếp lửa - tiếng chim tu hú - người bà là ba hình tượng hòa quyện trong tâm hồn đứa cháu xa quê. Ở đây, tình thương nhớ bà gắn với tình yêu quê hương, đất nước.
- Luận điểm 2: Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Có một thời gian khổ mà không thể nào quên. Có những người gắn bó với tuổi thơ chúng ta, trở thành kỉ niệm, mang theo bao tình thương, nỗi nhớ sâu nặng trong lòng ta. Bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt với hình ảnh người bà đã đem đến cho ta cảm xúc và nỗi niềm bâng khuâng ấy.
Bài thơ "Bếp lửa" được viết năm 1963, khi Bằng Việt đang sống và học tập xa đất nước. Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi vê những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với sự chăm sóc, lo toan, vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quí của bà. Cuối cùng người cháu muốn giữ niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài thơ là đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm. Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về bà và những kỉ niệm đối với bà, nói lên lòng kính yêu và những suy ngẫm về bà.
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hi sinh cao cả, bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt là một trong những bài thơ lắng sâu trong tâm hồn tuổi thơ mỗi chúng ta. Hình ảnh người bà đôn hậu cùng với hình tượng ngọn lửa là hai nét vẽ biểu cảm của một hồn thơ đẹp
Rồi sớm...... bếp lửa!
Thật vậy! Từ nhứng kie niệm hồi tưởng về tuổi thơ bà, người cháu ssuy ngẫm về cuộc đời bà. Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Có thể nói bà là người nhóm lửa lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng trong mỗi gia đình.
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.
Từ "bếp lửa" tác giả nghĩ về "ngọn lửa". Một hình twownggj rất tráng lệ "Bếp lửa bà nhen" sớm sớm chiều chiều đã làm sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương "luôn ủ sẵn", ngọn lửa của niềm tin vô cùng "dai dẳng" bền bỉ và bất diệt. Lòng bà, tình thương của bà sáng bừng ngọn lửa ấy. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ "rồi sớm rồi chiều", "bà nhen bà ủ sẵn", "một ngọn lửa" - có gí trị thẩm mĩ đặc sắc thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn đối với đức hi sinh tần tảo, bền bỉ của người bà kính yêu. Tình thương, đức hi sinh, tính kiên trì nhẫn nại của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng ngọn lửa vĩnh cửu truyền cảm ấy. Bởi vậy từ "bếp lửa" bài thơ đã gợi đến " ngọn lửa" với ý nghĩa trừu tượng và khái quát.
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm của cháu đối với bà và việc bà nhóm lửa. Phần đầu bài thơ có câu "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa", thì ở đây cháu lại thổ lộ "Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa". Cuộc đời của bà nhiều "lận đận" trải qua nhiều "nắng mưa" vất vả. Bà cần mẫn lo toan chịu thương, chịu khó, thức khuya dạy sớm vì bát cơm mmanh áo của con cháu trong gia đình. Cảnh nghèo nên bà một đời vất vả. Chữ "lận đận" thể hiện tấm lòng đôn hậu và đức hi sinh của bà.
"Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sơm...
Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu; cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà.
Cảm xúc dâng trào khi nhà thơ nghĩ về bà, về bếp lửa và việc bà nhóm lửa. Một sự tổng kết và ngợi ca về đời bà, tình cảm của bà. Bà là suỗi nguồn của ấm no và hạnh phúc, là tình thương của tuổi thơ. Bếp lửa mà bà nhen nhóm bằng đôi bàn tay già nua gầy guộc của một đời người là ngọn lửa "kì lạ và thiêng liêng". Điệp ngữ "nhóm bếp lửa", "nhóm niềm yêu thương", "nhóm nồi xôi gạo mới", "nhóm dậy cả nhứng tám lòng" - bốn lần vang lên qua vần thơ cảm thán, nuôi dưỡng trong lòng con cháu bao "niềm yêu thương", bao ước mơ hoài bão. Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên ngọn lửa do bà "nhóm" suốt mấy chục năm trời.
"Nhóm bế lửa ấm áp.....tâm tình tuổi thơ"
Hình ảnh người bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa. Trong bài thơ, có tối đa mười lần tác giả nhắc tới bếp lửa và hiện diện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, người phụ nữ Việt Nam muôn thuở với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại và đầy yêu thương. Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút, bếp lửa gắn với những khó khăn, gian khổ đời bà. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chít dành cho con cháu và mọi người. Chính vì thế mà nhà thơ đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng.
"Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!"
Kính thưa quí thầy cô giáo ! Hình ảnh người bà trong bài "Bếp lửa" của Bằng Việt đẹp như vậy đó. Bà là người phụ nữ điển hình cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Bên cạnh bà, còn có bao người bà khác cũng c ó vẻ đẹp như thế. Xin mời các bạn đến với người bà của người chiến sĩ trong bài thơ "Tiếng gà trưa" của nhà thơ Xuân Quỳnh để được hiểu thêm về hình ảnh người bà, mới thấy hết những nét đẹp của người bà.
"Tiếng gà trưa...... cháu được quần áo mới"....
Hình ảnh người bà hiện lên trong bài thơ đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình yêu thương cho đứa cháu nhỏ. Bà tần tảo, chắt chiu nâng niu những ước mơ, hạnh phúc đơn sơ nhỏ bé của đưa cháu yêu.
Kính thưa quí thầy cô giáo ! Chỉ với hình ảnh "bếp lửa", tác giả đã thêu dệt nên bao ý tưởng, bao tình cảm hòa quyện vào nhau, trong đó có sự thống nhất hài hòa giữa tình cảm gia đình, quê hương và đất nước với sự chắt chiu mộc mạc của hình ảnh "bếp lửa" nơi làng quê. Tất cả làm cho bài thơ thật sự trở nên lôi cuốn người đọc.
Sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng, bài thơ chứa đựng một ý nghĩa triết lí thầm kín: Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.
....................
- Luận điểm 3:
Kính thưa quí thầy cô giáo !
Bốn câu thơ trong phần kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa. Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp đã "có ngọn khói trưm tàu", đã "có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả" nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình thương yêu. Giọng thơ trở nên đằm thắm ngọt ngào:
"Giờ cháu........ nhóm bếp lên chưa?"
Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay nhưng tình thương nhớ bà vẫn tha thiết, mãnh liệt. Cảm xúc thơ như những lớp sóng cuộn lên trong lòng người. "Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?". Qua câu thơ, ta như cảm nhận được sự nhớ nhung, âu yếm của đứa cháu nhỏ với bà yêu dấu. Có người đã nói rằng: "Tuổi thơ là một quá khứ đẹp mà quá khứ đẹp chính là nơi con người ta phải nhìn lại để biết sống đẹp hơn, có ích hơn trong cuộc đời này."
Riếng Bằng Việt..........................
Huỳnh Văn Tâm @ 16:30 31/10/2010
Số lượt xem: 3619
Số lượt thích:
0 người
 
- ĐỒNG CHÍ - CHÍNH HỮU (31/10/10)
Đọc tin mới
html



Các ý kiến mới nhất